LỊCH SỬ CÔN NHỊ KHÚC
Trong các võ
phái cổ truyền Trung Hoa, binh khí côn nhị khúc cũng có nhưng không thịnh
hành, các binh khí thường dùng là côn tam khúc hoặc tiên (roi) với
nhiều đốt nối với nhau (thất tiết tiên hoặc cửu tiết tiên). Có thể tìm thấy
trong các vũ khí cổ của Trung Hoa một dạng thức gần tương tự côn nhị khúc nhưng
bao gồm một khúc dài và một khúc ngắn hơn, hoặc một khúc dài với hai khúc ngắn
nối với nhau bằng dây mềm, khi luyện tập thường tập một chiếc hoặc tập cả hai
chiếc được gọi tên là song hổ vĩ côn (côn đuôi hổ).
Tương truyền
tại vùng Okinawa khi tiểu nơi này bị người Nhật đô hộ, người Nhật cai
trị tàn khốc với sưu cao thuế nặng khiến dân bản địa liên tục nổi dậy phản
kháng. Các võ quan Nhật tại các làng mạc đã nghiêm cấm không cho người dân được
sử dụng dụng cụ bằng sắt trong sản xuất sinh hoạt, chỉ trừ một con
dao sắt được sử dụng hạn chế với sự kiểm soát của kẻ cai trị, loại bỏ tất cả những
gì có thể trở thành vũ khí sát thương nhằm thủ tiêu ý chí đấu tranh của người
dân bản địa. Việc tập luyện dưới hầm những chiêu thức tự vệ đã định hình những
kỹ thuật chiến đấu Karatedo đầu tiên và các dụng cụ sản xuất bằng gỗ, tre, trúc đã
được người dân ở đây chế tạo thành các vũ khí để hợp pháp hóa sử dụng khi mang
trong người vượt thoát khỏi mọi sự kiểm duyệt: trường côn (bo) vốn xuất
xứ từ một cây sào; song quải (tonfa) một dạng dùi cui có cán chĩa
ngang hình chữ L; chĩa ba (sai) để xóc rơm rạ; tiểu đoản côn là khúc
côn gỗ ngắn như cây bút có thể để gọn trong lòng bàn tay; liềm (kama) ban đầu
là dụng cụ cắt lúa, và côn nhị khúc (nunchaku) xuất xứ từ hai thanh tre hay gỗ
buộc dây ở đầu dùng cuộn bó lúa khi đập lúa.
Trong các võ
phái cổ truyền Việt Nam, có một dụng cụ cũng xuất xứ từ chiếc kẹp lúa và cấu tạo
giống hệt nunchaku, tuy vẫn thường thấy có hai thành một dài một ngắn được gọi
là thanh mẹ thanh con. Vũ khí này được gọi tên là thiết lĩnh với lối
đánh rất gọn, có nguồn gốc từ xa xưa và hiện nay nhiều võ phái xuất phát từ
Bình Định vẫn sử dụng.
Điều cần nói
thêm ở đây rằng, dù rất có thể chiếc côn nhị khúc đầu tiên không là bản quyền của
vùng Okinawa Nhật Bản, nhưng chính tính phổ biến của nó sau này theo sự bành
trướng của môn phái Karatedo khắp thế giới, đã khiến cả thế giới chỉ biết đến một
tên gọi thuần Nhật – nunchaku của vũ khí này, và côn nhị khúc nghiễm nhiên được
thừa nhận nguyên ủy từ quần đảo Okinawa. Sự phổ biến hình ảnh của Lý Tiểu
Long với côn nhị khúc trong tay, mà vũ khí này được họ Lý ưa chuộng và tập
luyện nhờ sự chỉ dẫn của một đồng môn Triệt quyền đạo vốn xuất thân
ban đầu từ Karate, cũng phần nào khuyếch trương và phổ dụng hóa loại vũ khí
này.
Vào khoảng
tháng 8 năm 1985, môn sinh Lê Lý Thuận ở thành phố Hồ Chí Minh đã nghiên cứu, sáng
tạo và hệ thống hóa các kỹ thuật côn nhị khúc thành chương trình đào tạo
hoàn chỉnh, theo 3 bậc chuyên môn: sơ cấp, trung cấp và nâng cao. Trong những
cố gắng hoàn thiện trên, nổi bật nhất là sự sáng tạo 04 kỹ thuật lăn cơ bản đã
góp phần đưa côn nhị khúc từ một binh khí thông thường trở thành một môn thể
thao nghệ thuật.
Ngày 20 tháng
5 năm 2005, Bộ môn Côn nhị khúc của Trung tâm đào tạo Huấn luyện viên võ thuật
Việt Nam (từ 12/9/2011 đã đổi tên thành Trung tâm đào tạo Huấn luyện viên thể
thao Việt Nam), gọi tắt là Trung tâm MIC đã thông qua “Luật thi đấu côn nhị
khúc” do thầy Lê Rích Tô – giáo viên côn nhị khúc của Trung tâm MIC nghiên cứu
xây dựng. Điểm lưu ý của luật này là đã thể thao hóa côn nhị khúc với cả hai dạng
thức thi đấu quyền thuật côn nhị khúc và đối kháng côn nhị khúc.
Theo luật này, quyền thuật côn nhị khúc là loại hình thi đấu hoàn
toàn sáng tạo – riêng biệt của mỗi thí sinh, không có các bài quyền mẫu
như hệ thống thi đấu của các môn võ thuật khác.